THIẾT BỊ PHỤ TRONG HỆ THỐNG LẠNH

VAI TRÒ, VỊ TRÍ THIẾT BỊ PHỤ TRONG HỆ THỐNG LẠNH

Trong hệ thống lạnh các thiết bị chính bao gồm: máy nén, thiết bị ngưng tụ và thiết bị bay hơi. Tất cả các thiết bị còn lại được coi là thiết bị phụ. Như vậy số lượng và công dụng của các thiết bị phụ rất đa dạng, bao gồm: bình trung gian, bình chứa cao áp, bình chứa hạ áp, bình tách lỏng, bình tách dầu, bình hồi nhiệt, bình tách khí không ngưng, bình thu hồi dầu, bình giữ mức, các thiết bị điều khiển, tự động vv…

Các thiết bị phụ có thể có trong hệ thống lạnh này, nhưng có thể không có trong loại hệ thống khác, tuỳ thuộc vào yêu cầu của hệ thống.

THIẾT BỊ PHỤ TRONG HỆ THỐNG LẠNH

Thiết bị trung gian

Công dụng chính của bình trung gian là để làm mát trung gian giữa các cấp nén trong hệ thống lạnh máy nén nhiều cấp.

Thiết bị làm mát trung gian trong các hệ thống lạnh gồm có 3 dạng chủ yếu sau:

  • Kiểu đặt đứng có ống xoắn ruột gà sử dụng cho NH3 và frêôn
  • Nằm ngang sử dụng cho Frêôn
  • Kiểu tấm bản.
Bình trung gian đặt đứng có ống xoắn ruột gà

Bình này có ống xoắn ruột gà ngoài việc sử dụng để làm mát trung gian, bình có có thể sử dụng để :

  • Tách dầu cho dòng gas đầu đẩy máy nén cấp 1
  • Tách lỏng cho ga hút về máy nén cấp 2
  • Quá lạnh lỏng trước khi tiết lưu vào dàn lạnh nhằm giảm tổn thất tiết lưu.

Bình trung gian đặt đứng có ống xoắn ruột gà

1- Hơi hút về máy nén áp cao; 2- Hơi từ đầu đẩy máy nén hạ áp đến, 3- Tiết lưu vào; 4- Cách nhiệt; 5- Nón chắn; 6- Lỏng ra; 7- ống xoắn ruột gà; 8- Lỏng vào; 9- Hồi lỏng; 10- Xả đáy, hồi dầu; 11- Chân bình; 12- Tấm bạ; 13- Thanh đỡ; 14- ống góp lắp van phao; 15- ống lắp van AT, áp kế

Hình 8-1 : Bình trung gian đặt đứng

Bình trung gian có cấu tạo hình trụ, có chân cao, bên trong bình bố trí ống xoắn làm lạnh dịch lỏng trước tiết lưu. Bình có trang bị 02 van phao khống chế mức dịch, các van phao được nối vào ống góp 14 để lấy tín hiệu. Van phao phía trên V1 bảo vệ mức dịch cực đại của bình, nhằm ngăn ngừa hút lỏng về máy nén cao áp. Khi mức dịch trong bình dâng cao đạt mức cho phép van phao tác động đóng van điện từ ngừng cấp dịch vào bình.

Van phao dưới V2 khống chế mức dịch cực tiểu nhằm đảm bảo các ống xoắn luôn luôn ngập trong dịch lỏng. Khi mức dịch dưới hạ xuống thấp quá mức cho phép van phao V2 tác động mở van điện từ cấp dịch cho bình. Ngoài van phao bình còn được trang bị van an toàn và đồng hồ áp suất lắp ở phía trên thân bình.

Ga từ máy nén cấp 1 đến bình được dẫn sục vào trong khối lỏng có nhiệt độ thấp và trao đổi nhiệt một cách nhanh chóng. Phần cuối ống đẩy 2 người ta khoan nhiều lổ nhỏ để hơi sục ra xung quanh bình đều hơn. Phía trên thân bình có các nón chắn có tác dụng như những nón chắn trong các bình tách dầu và tách lỏng. Dòng lỏng tiết lưu hoà trộn với hơi quá nhiệt cuối quá trình nén cấp 1, trước khi đưa vào bình. Ống hút hơi về máy nén cấp 2 được bố trí nằm phía trên các nón chắn. Bình trung gian được bọc cách nhiệt, bên ngoài cùng bọc tôn bảo vệ.

Bình trung gian kiểu nằm ngang

Các máy lạnh frêôn của hãng MYCOM thường sử dụng bình trung gian kiểu nằm ngang. Cấu tạo bình trung gian kiểu nằm ngang tương đối giống bình ngưng tụ, gồm: Thân hình trụ, hai đầu có các mặt sàng, bên trong là các ống trao đổi nhiệt. Nguyên lý làm việc tương tự như bình trung gian kiểu ống xoắn ruột gà. Môi chất lạnh lỏng từ bình chứa cao áp đến được đưa vào không gian giữa các ống trao đổi nhiệt và thân bình. Bên trong bình, môi chất lỏng chuyển động theo đường dích dắc nhờ các tấm ngăn.

Bình trung gian kiểu nằm ngang
A- ống hơi ra; B- Lỏng vào; C- Lỏng ra; D- ống tiết lưu; E- Hơi vào

Hình 8-2: Bình trung gian nằm ngang

Bình trung gian kiểu nằm ngang có kích thước không lớn, nên thường không trang bị các thiết bị bảo vệ như van phao, van an toàn và đồng hồ áp suất. Bình trung gian kiểu nằm ngang được sử dụng để làm mát trung gian hơi nén cấp 1 và quá lạnh lỏng trước tiết lưu vào dàn lạnh.

Sử dụng bình trung gian kiểu nằm ngang có hiệu quả giải nhiệt rất tốt. Bình trung gian kiểu nằm ngang cũng được bọc cách nhiệt dày khoảng 50 – 75mm, bên ngoài bọc inox hoặc tôn để bảo vệ.

Thiết bị trung gian kiểu tấm bản

Đối với các hệ thống lạnh 2 cấp công suất nhỏ người ta sử dụng thiết bị làm mát trung gian kiểu tấm bản. Thiết bị trung gian kiểu tấm bản không khác gì só với thiết bị ngưng tụ hay bay hơi kiểu tấm bản. Tuy nhiên do công suất giải nhiệt trung gian thường không lớn nên bình trung gian kiểu tấm bản có công suất nhỏ hơn.

Trên hình 8-3 trình bày nguyên lý tủ cấp đông 500 kg/mẻ sử dụng thiết bị làm mát trung gian kiểu tấm bản.

Theo sơ đồ nguyên lý này, ở thiết bị trung gian chỉ xảy ra quá trình làm lạnh lỏng cao áp trước tiết lưu. Quá trình làm mát trung gian thực hiện bên ngoài thiết bị trung gian bằng cách hoà trộn 2 dòng môi chất: Hơi quá nhiệt sau đầu đẩy máy nén cấp 1 và hơi bão hoà của dòng tiết lưu đi ra thiết bị trung gian hoà trộn với nhau thành hơi bão hoà khô và được hút về phía máy nén cao áp.

Bình trung gian kiểu tấm bản thường được sử dụng cho các máy nén 2 cấp kiểu nửa kín.

Tính toán bình trung gian

Tính toán bình trung gian bao gồm

– Diện tích truyền nhiệt của thiết bị trung gian

19473 (8-1)

thiet bi nhiet lanh

– Đối với bình trung gian đặt đứng, có đường kính đủ lớn để tốc độ môi chất trong bình không lớn nhằm tách lỏng và tách dầu.

19461
1- Máy nén; 2- Bình tách dầu; 3- Bình chứa; 4- Bình ngưng; 5- Tháp GN; 6- Bộ làm mát trung gian; 7- Bình tách lỏng hồi nhiệt; 8- Bình trống tràn; 9- Tủ cấp đông

Hình 8-3: Sơ đồ nguyên lý tủ đông 500 kg/mẻ sử dụng thiết bị trung gian kiểu tấm bản

19472 (8-3)
V- Lưu lượng thể tích trong bình, bằng lưu lượng hút cấp 2, m3/s

w- Tốc độ gas trong bình, chọn w = 0,6 m/s – Độ dày thân bình:

19462 (8-4)

PTK – áp suất thiết kế, kG/cm2. Đối với bình tách dầu PTK = 16,5 kG/cm2;

Dt – đường kính trong của bình, mm;

phi – Hệ số bền mối hàn dọc thân bình. Nếu hàn hồ quang phi = 0,7, nếu ống nguyên, không hàn phi = 1,0;

xichmaCP – ứng suất cho phép của vật liệu ứng với nhiệt độ thiết kế. Vật liệu chế tạo thân bình thường là thép CT3, nhiệt độ thiết kế của bình tách dầu có thể lấy 40oC;

C- Hệ số dự trữ : C = 2 – 3mm.

Bình tách dầu

Các máy lạnh khi làm việc cần phải tiến hành bôi trơn các chi tiết chuyển động nhằm giảm ma sát, tăng tuổi thọ thiết bị. Trong quá trình máy nén làm việc dầu thường bị cuốn theo môi chất lạnh. Việc dầu bị cuốn theo môi chất lạnh có thể gây ra các hiện tượng:

  • Máy nén thiếu dầu, chế độ bôi trơn không tốt nên chóng hư hỏng.
  • Dầu sau khi theo môi chất lạnh sẽ đọng bám ở các thiết bị trao đổi nhiệt như: Thiết bị ngưng tụ, thiết bị bay hơi làm giảm hiệu quả trao đổi nhiệt, ảnh hưởng chung đến chế độ làm việc của toàn hệ thống.

Để tách lượng dầu bị cuốn theo dòng môi chất khi máy nén làm việc, ngay trên đầu ra đường đẩy của máy nén người ta bố trí bình tách dầu. Lượng dầu được tách ra sẽ được hồi lại máy nén hoặc đưa về bình thu hồi dầu.

* Nguyên lý làm việc

Nhằm đảm bảo tách triệt để dầu bị cuốn môi chất lạnh, bình tách dầu được thiết kế theo nhiều nguyên lý tách dầu như sau:

  • Giảm đột ngột tốc độ dòng gas từ tốc độ cao (khoảng 18 – 25 m/s) xuống tốc độ thấp 0,5 – 1,0 m/s. Khi giảm tốc độ đột ngột các giọt dầu mất động năng và rơi xuống.
  • Thay đổi hướng chuyển động của dòng môi chất một cách đột ngột. Dòng môi chất đưa vào bình không theo phương thẳng mà thường đưa ngoặt theo những góc nhất định.
  • Dùng các tấm chắn hoặc khối đệm để ngăn các giọt dầu. Khi dòng môi chất chuyển động va vào các vách chắn, khối đệm các giọt dầu bị mất động năng và rơi xuống.
  • Làm mát dòng môi chất xuống 50 – 60oC bằng ống xoắn trao đổi nhiệt đặt bên trong bình tách dầu.
  • Sục hơi nén có lẫn dầu vào môi chất lạnh ở trạng thái lỏng.

* Phạm vi sử dụng

Bình tách dầu được sử dụng ở hầu hết các hệ thống lạnh có công suất trung bình, lớn và rất lớn, đối với tất cả các loại môi chất. Đặc biệt các môi chất không hoà tan dầu như NH3, hoà tan một phần như R22 thì cần thiết phải trang bị bình tách dầu.

Đối với các hệ thống nhỏ, như hệ thống lạnh ở các tủ lạnh, máy điều hoà rất ít khi sử dụng bình tách dầu.

* Phương pháp hồi dầu từ bình tách dầu

  1. Xả định kỳ về máy nén: Trên đường hồi dầu từ bình tách dầu về cacte máy nén có bố trí van chặn hoặc van điện từ. Trong quá trình vận hành quan sát thấy mức dầu trong cacte xuống quá thấp thì tiến hành hồi dầu bằng cách mở van chặn hoặc nhấn công tắc mở van điện từ xả dầu.
  2. Xả tự động nhờ van phao: Sử dụng bình tách dầu có van phao tự động hồi dầu. Khi mức dầu trong bình dâng lên cao, van phao nổi lên và mở cửa hồi dầu về máy nén.

* Nơi hồi dầu về:

  1. Hồi trực tiếp về cacte máy nén.
  2. Hồi dầu về bình thu hồi dầu. Cách hồi dầu này thường được sử dụng cho hệ thống amôniắc. Bình thu hồi dầu không chỉ dùng thu hồi dầu từ bình tách dầu mà còn thu từ tất cả các bình khác. Để thu gom dầu, người ta tạo áp lực thấp trong bình nhờ đường nối bình thu hồi dầu với đường hút máy nén.
  3. Xả ra ngoài. Trong một số hệ thống, những thiết bị nằm ở xa hoặc trường hợp dầu bị bẩn, việc thu gom dầu khó khăn, người ta xả dầu ra ngoài. Sau khi được xử lý có thể sử dụng lại.

* Các lưu ý khi lắp đặt và sử dụng bình tách dầu:

Quá trình thu hồi dầu về cacte máy nén cần lưu ý các trường hợp đặc biệt sau:

  • Đối với bình tách dầu chung cho nhiều máy nén. Nếu đưa dầu về bình thu hồi dầu rồi bổ sung cho các máy nén sau thì không có vấn đề gì. Trường hợp thu hồi trực tiếp về cacte của các máy nén rất dễ xảy ra tình trạng có máy nén thừa dầu, máy khác lại thiếu. Vì vậy các máy nén đều có bố trí van phao và tự động hồi dầu khi thiếu.
  • Việc thu dầu về cacte máy nén khi đang làm việc, có nhiệt độ cao là không tốt, vì vậy hồi dầu vào lúc hệ thống đang dừng, nhiệt độ bình tách dầu thấp. Đối với bình thu hồi dầu tự động bằng van phao mỗi lần thu hồi thường không nhiều lắm nên có thể chấp nhận được.

Để nâng cao hiệu quả tách dầu các bình được thiết kế thường kết hợp một vài nguyên lý tách dầu khác nhau.

* Tính toán bình tách dầu:

Bình tách dầu phải đảm bảo đủ lớn để tốc độ gas trong bình đạt yêu cầu.

– Xác định đường kính trong D t của bình :

19466 (8-5)
ở đây

V – Lưu lượng thể tích dòng hơi đi qua bình tách dầu, m3/s;

w – Tốc độ của hơi môi chất trong bình, m/s. Tốc độ hơi trong bình đủ nhỏ để tách được các hạt dầu, w = 0,5 – 1,0 m/s;

Lưu lượng thể tích hơi môi chất đi qua bình tách dầu được xác định theo công thức:

V = G. v2 (8-6)

G – Lưu lượng khối lượng môi chất qua bình, kg/s;

v2– Thể tích riêng trạng thái hơi qua bình, trạng thái đó tương ứng với trạng thái đầu đẩy của máy nén, m3/kg.

– Xác định chiều dày thân và đáy bình :

19462

(8-7)

pTK – Áp suất thiết kế, kG/cm2. Đối với bình tách dầu PTK = 19,5 kG/cm2;

Dt – Đường kính trong của bình, mm

phi – Hệ số bền mối hàn dọc thân bình. Nếu hàn hồ quang phi = 0,7, nếu ống nguyên, không hàn phi = 1,0;

xichmaCP – ứng suất cho phép của vật liệu ứng với nhiệt độ thiết kế. Vật liệu chế tạo thân bình thường là thép CT3, nhiệt độ thiết kế của bình tách dầu có thể lấy 100oC;

C- Hệ số dự trữ : C = 2 – 3mm.

Dưới đây là một số kiểu bình tách dầu thường hay được sử dụng

8.2.2.1 Bình tách dầu kiểu nón chắn
1- Hơi vào; 2- Vành gia cường; 3- Hơi ra; 4- Nón chắn trên;

5- Cửa hơi xả vào bình; 6- Nón chắn dưới; 7- Dầu ra

Hình 8-4: Bình tách dầu kiểu nón chắn

19463

Bình tách dầu kiểu nón chắn có nhiều dạng khác nhau, nhưng phổ biến nhất là loại hình trụ, đáy và nắp dạng elip, các ống gas vào ra ở hai phía thân bình (Hình 8-4).

Bình tách dầu kiểu nón chắn được sử dụng rất phổ biến trong các hệ thống lạnh lớn và rất lớn. Nguyên lý tách dầu kết hợp rẽ ngặt dòng đột ngột, giảm tốc độ dòng và sử dụng các nón chắn. Dòng hơi từ máy nén đến khi vào bình rẽ ngoặt dòng 90o, trong bình tốc độ dòng giảm đột ngột xuống khoảng 0,5 m/s các giọt dầu phần lớn rơi xuống phía dưới bình. Hơi sau đó thoát lên phía trên đi qua các lổ khoan nhỏ trên các tấm chắn. Các giọt dầu còn lẫn sẽ được các nón chắn cản lại

Để dòng hơi khi vào bình không sục tung toé lượng dầu đã được tách ra nằm ở đáy bình, phía dưới người ta bố trí thêm 01 nón chắn. Nón chắn này không có khoan lổ nhưng ở chổ gắn vào bình có các khoảng hở để dầu có thể chảy về phía dưới.

Ngoài ra đầu cuối ống dẫn hơi bịt kín không xả hơi thẳng xuống phía dưới đáy bình mà hơi được xả ra xung quanh theo các rãnh xẻ hai bên.

Do việc hàn đáy elip vào thân bình chỉ có thể thực hiện từ bên ngoài nên để gia cường mối hàn, phía bên trong người ta có hàn sẵn 01 vành có bề rộng khoảng 30mm.

Bình tách dầu có van phao thu hồi dầu

Bình tách dầu có van phao tự động thu hồi dầu cũng có rất nhiều kiểu dạng khác nhau, tuy nhiên có điểm chung là bên trong có van phao nối với đường thu hồi dầu. Khi lượng dầu trong bình đủ lớn, van phao tự động mở cửa để dầu thoát ra ngoài.

Trên hình 8-5 trình bày cấu tạo của hai loại bình tách dầu có van phao tự động thu hồi dầu, nhưng nguyên lý tách dầu có khác nhau.

Bình tách dầu trên hình 8-5a có cấu tạo khá đơn giản. Bên trong bình tách dầu ở đầu nối ống hơi vào, ra người ta gắn các bao lưới kim loại với thước lổ lưới rất nhỏ. Các lưới chắn có tác dụng tách dầu khá hiệu quả. Đối với dòng hơi vào, bao lưới có tác dụng cản và giảm động năng các giọt dầu. Đối với ống hơi ra bao lưới có tác dụng ngăn không cho cuốn dầu ra khỏi bình. Khi lượng dầu trong bình đủ lớn, van phao sẽ mở cửa cho dầu thoát ra ngoài.

Trên hình 8-5b, nguyên lý tách dầu hoàn toàn khác. Hơi môi chất đi vào phía dưới, sau đó đi vào khoang hơi ở xung quanh và đi lên phía trên. Trước khi đi ra khỏi bình hơi được dẫn qua lớp vật liệu xốp để tách hết dầu.

Bình tách dầu có van phao thu hồi dầu thường được sử dụng cho các hệ thống nhỏ và trung bình, đặc biệt trong các hệ thống môi chất frêôn.

19464
a) b)

Hình 8-5: Bình tách dầu kiểu van phao

Bình tách lỏng

Để ngăn ngừa hiện tượng ngập lỏng gây hư hỏng máy nén, trên đường hơi hút về máy nén, người ta bố trí bình tách lỏng. Bình tác lỏng sẽ tách các giọt hơi ẩm còn lại trong dòng hơi trước khi về máy nén.

Các bình tách lỏng làm việc theo các nguyên tắc tương tự như bình tách dầu, bao gồm:

  • Giảm đột ngột tốc độ dòng hơi từ tốc độ cao xuống tốc độ thấp cỡ 0,5 – 1,0 m/s. Khi giảm tốc độ đột ngột các giọt lỏng mất động năng và rơi xuống đáy bình.
  • Thay đổi hướng chuyển động của dòng môi chất một cách đột ngột. Dòng môi chất đưa vào bình không theo phương thẳng mà thường đưa ngoặt theo những góc nhất định.
  • Dùng các tấm chắn để ngăn các giọt lỏng. Khi dòng môi chất chuyển động va vào các vách chắn các giọt lỏng bị mất động năng và rơi xuống.
  • Kết hợp tách lỏng hồi nhiệt, hơi môi chất khi trao đổi nhiệt sẽ bốc hơi hoàn toàn.

* Phạm vi sử dụng

Hầu hết các hệ thống lạnh đều sử dụng bình tách lỏng. Trong một số hệ thống có một số thiết bị có khả năng tách lỏng, thì có thể không sử dụng bình tách lỏng. Trong các hệ thống nhỏ và rất nhỏ do lượng gas tuần hoàn không lơn nên người ta cũng ít khi sử dụng bình tách lỏng.

* Cấu tạo

Do nguyên lý tách lỏng rất giống nguyên tách dầu nên các bình tách lỏng thường có cấu tạo tương tự bình tách dầu. Điểm khác đặc biệt nhất giữa các bình là bình tách lỏng là phạm vi nhiệt độ làm việc. Bình tách dầu làm việc ở nhiệt độ cao còn bình tách lỏng làm việc ở nhiệt độ thấp nên cần bọc cách nhiệt. Bình tách dầu đặt trên đường đẩy, còn bình tách lỏng đặt trên đường ống hút.

* Tính toán bình tách lỏng:

Bình tách lỏng phải đảm bảo đủ lớn để tốc độ gas trong bình đạt yêu cầu.

– Xác định đường kính trong D t của bình :

19467 (8-8)
ở đây

Vh – Lưu lượng thể tích dòng hơi đi qua bình tách lỏng, m3/s;

w – Tốc độ của hơi môi chất trong bình, m/s. Tốc độ hơi trong bình đủ nhỏ để tách được các hạt lỏng, w = 0,5 – 1,0 m/s.

Lưu lượng thể tích hơi môi chất đi qua bình được xác định theo công thức:

V = G. vh (8-9)

G – Lưu lượng khối lượng môi chất qua bình, kg/s;

vh– Thể tích riêng trạng thái hơi qua bình tách lỏng. Trạng thái đó tương ứng với trạng thái hơi hút của máy nén, m3/kg.

– Xác định chiều dày thân và đáy bình :

(8-10)

pTK – áp suất thiết kế, kG/cm2. Đối với bình tách lỏng PTK = 16,5 kG/cm2;

Dt – đường kính trong của bình, mm;

phi – Hệ số bền mối hàn dọc thân bình. Nếu hàn hồ quang phi = 0,7, nếu ống nguyên, không hàn phi = 1,0;

xichmaCP – ứng suất cho phép của vật liệu ứng với nhiệt độ thiết kế. Vật liệu chế tạo thân bình thường là thép CT3. Nhiệt độ thiết kế của bình tách lỏng có thể lấy 50oC;

C- Hệ số dự trữ : C = 2 – 3mm.

Bình tách lỏng kiểu nón chắn

19474

1- ống ga vào; 2- Tấm gia cường; 3- ống ga ra; 4- Nón chắn; 5- Cửa xả hơi; 6- Lỏng ra

Hình 8-6 : Bình tách lỏng kiểu nón chắn

Bình tách lỏng kiểu nón chắn có cấu tạo tương tự như bình tách dầu kiểu nón chắn. Điểm khác là bình tách lỏng kiểu nón chắn không có nón chắn phụ phía dưới. Vì dòng hơi được hút vào bình tách lỏng không sục thẳng xuống đáy bình gây xáo trộn lỏng phía dưới. Nguyên tắc tách lỏng tương tự như bình tách dầu.

Bình tách lỏng hồi nhiệt

19475

1- Ống hút về máy nén; 2- Ống hơi vào; 3- Nón chắn; 4- Lỏng vào; 5- Xả lỏng; 6- Lỗ tiết lưu dầu và lỏng; 7- Lỏng ra; 8- Ống hồi nhiệt

Hình 8-7 : Bình tách lỏng kiểu nón chắn

Bình tách lỏng hồi nhiệt thường được sử dụng cho hệ thống Frêôn. Bình có 02 chức năng:

  • Tách lỏng cho dòng hơi hút máy nén.
  • Quá lạnh dòng lỏng trước tiết lưu để giảm tổn thất tiết lưu.

Việc hồi nhiệt ở trong bình tách lỏng làm tăng năng suất lạnh, nâng cao tác dụng tách lỏng. Vì một phần lỏng trong quá trình trao đổi nhiệt đã hoá thành hơi.

Dòng hơi từ dàn bay hơi được hút vào ống hút 2 và đi về phía dưới các nón chắn 3. Ở phía dưới hơi trao đổi nhiệt với lỏng chuyển động trong ống xoắn. Các giọt hơi ẩm còn lại sẽ hoá hơi. Đảm bảo hơi ra khỏi bình tách lỏng hơi sẽ có độ quá nhiệt nhất định. Nếu trong trường hợp các giọt ẩm chưa được hoá hơi hết, các nón chắn sẽ tách tiếp các giọt lỏng đó khi dòng hơi chuyển động lên phía trên.

Ống hơi hút về máy nén được uốn cong xuống phía dưới đáy bình. Ở đó có khoan 01 lỗ nhỏ phi=3 – 4mm để hút dầu, lắng đọng lại bên trong bình tách lỏng về. Việc này không gây ngập lỏng vì số lượng ít và bị hoá hơi một phần do tiết lưu khi đi qua lổ khoan.

Lỏng được tách ra ở đáy bình cũng có thể được đưa về dàn lạnh từ ống xả lỏng 5.

Bình tách lỏng kiểu khác

19471

Hình 8-8 : Bình tách lỏng loại nhỏ

Ngoài ra, trong các hệ thống lạnh người ta còn sử dụng nhiều loại bình tách lỏng khác nữa. Dưới đây là một dạng bình hay được sử dụng trong các hệ thống lạnh frêôn nhỏ. Về cấu tạo như bình tách lỏng kiểu hồi nhiệt. Bên trong không có các nón chắn và cụm ống xoắn hồi nhiệt.

Nguồn: Sưu tầm